By Zuzanna Stanska
Published on November 13, 2017
Đặng Vân Phúc – tổng hợp
Mùa Thu, tràn đầy xao xuyến và cảm xúc khắp nơi, tuy nhiên ở Warsaw (Ba lan) nơi Stanska sinh sống, chỉ một màu xám xịt và buồn bã, cô đã phải tìm đến những bức tranh màu sắc và đẹp đẽ về mùa Thu của các danh họa để thưởng ngoạn cảnh sắc tuyệt vời của mùa Thu, từ tranh của Claude Monet đến David Hockney thực sự là những tuyệt phẩm.
1. Claude Monet
.jpg)
Claude Monet, Autumn on the Seine at Argenteuil, 1873, High Museum of Art
Mùa Thu trên sông Seine. Chủ đề của bức tranh này được thực hiện với nhiều phong cách hiện thực: Monet mô tả một thị trấn nhỏ tên Argenteuil, nhìn từ một nhánh sông Seine. Các sọc xanh dày chạy ngang đánh dấu dòng chính của dòng sông. Đằng sau nó là những ngôi nhà và một chóp nhà thờ theo chiều đứng được lặp lại vớii ống khói trắng của một nhà máy. Khói bay lên hòa nhập lẫn vào những đám mây ở trên.
Tuy nhiên, thành phố hiện đại trong tranh được Monet mô tả không nhiều, ông tập trung vào mô tả sự ảnh hưởng của mùa, sự phản xạ trên mặt nước, và mảng màu trên cây - từ màu cam và hồng đến tím và xanh - tất cả thể hiện về sự quan sát cẩn thận của ông về sự thoáng qua trong khoảnh khắc.
2. Pierre Bonnard
.jpg)
Pierre Bonnard, Autumn View, 1912, private collection
Xem tranh của Bonnard, ta như nghe được cả tiếng lá xào xạc, tiếng chim hót, như cảm thấy được cả vị ngọt của những quả cam vàng mọng nước, hay những ngọn gió thổi vào một gian phòng …
Để tạo được những cảm giác như vậy là cả một sự tìm tòi công phu về cách sắp đặt từng chi tiết trong tác phẩm của mình, là cách sử dụng mầu sắc rất tinh vi chỉ Pierre Bonnard mới có được. Bên cạnh những gam mầu nóng, như vàng, nâu, đỏ, luôn kèm theo một vài sắc tía, ngả về mầu tím, xanh lơ. Chính những sắc mầu đệm đó phản ảnh những giày vò nội tâm, những vết thương thầm kín mà tác giả đã cố tình không đưa vào tranh của ông.
Giám đốc điều hành bảo tàng Bonnard tại Le Cannet, vùng Côtes d’Azur Véronique Serrano nhận xét :
« Ông làm việc với một gam mầu khá giới hạn nhưng ông đã phối hợp những mầu sắc đó với nhau, để thổi hồn vào mỗi tác phẩm của mình, để mỗi tác phẩm của Bonnard đều có sức lôi cuốn lạ thường. Bonnard thường được xem là người ‘tô điểm cho cuộc sống’, là họa sĩ ‘đem lại hạnh phúc’ cho thiên hạ. Trong khi đó như chính ông đã từng tâm sự : ‘kẻ hay hát, chưa hẳn là đã yêu đời hay hạnh phúc’. Đâu đó, những bức tranh rực rỡ sắc mầu như thể là cách để ông che giấu những vết thương nội tâm. Đó cũng là hình thức để ông cưỡng lại nỗi hoang mang sâu thẳm ».
3. Vincent van Gogh
.jpg)
Vincent van Gogh, Landscape with Trees, 1881, Museum Boijmans van Beuningen, Rotterdam, Netherlands
Nửa cuối thế kỉ XIX, nền hội họa thế giới đã đón nhận một danh họa bậc thầy người Hà Lan - Vincent Van Gogh (1853 - 1890). Ông cho ra đời khá nhiều tác phẩm nhưng đáng buồn thay, cuộc đời ông lại là một chuỗi dài những tháng ngày bi kịch. Ông phải sống trong cảnh nghèo túng do tranh của mình không thể bán nổi cho ai. Trong suốt cuộc đời mình, ông chỉ bán được duy nhất bức tranh “Vườn nho đỏ”. Nhưng 100 năm sau khi ông qua đời, người ta đã dần nhận thức được giá trị những họa phẩm của vị danh họa người Hà Lan này.
Và thế là tranh của ông liên tục phá những kỉ lục thế giới về giá bán, tiêu biểu phải kể đến một số tác phẩm như: “Hoa diên vĩ” - 53,9 triệu USD (khoảng 1.121 tỷ VNĐ), “Hoa hướng dương” - 40 triệu USD (khoảng 832 tỷ VNĐ) hay “khủng” hơn cả là bức “Chân dung bác sĩ Gachet” được bán vào năm 1990 với mức giá cao nhất mọi thời đại 82,5 triệu USD (khoảng 1.716 tỷ VNĐ) - tính theo giá trị ngày nay là gần 130 triệu USD (khoảng 2.704 tỷ VNĐ).
.jpg)
Vincent van Gogh, Autumn Landscape with Four Trees, 1885, Kröller-Müller Museum, Otterlo
Phong cảnh mùa thu Otterlo cho thấy các minh chứng nổi bật, khi so sánh với công việc trước đó của Vincent, về tăng cường kỹ năng của mình trong sáng tác. Đây không phải là một chủ đề mới cho ông; vào mùa xuân năm 1884, ông đã vẽ một bản phác họa rất chi tiết bằng chì nâu, có tựa đề 'Behind the Hedges', chưa rõ rảng lắm, bốn cây được hình thành chủ đề của bức tranh - tương đồng với sự nổi bật địa hình của bức tranh. Tuy nhiên, Van Gogh đã thực hiện các thành phần đơn giản nhưng mạnh mẽ này trong một năm rưỡi.
Không thể nghi ngờ rằng Vincent muốn phát triển hoàn toàn theo phong cách này. Đây là phiên bản thứ tư về bức vẽ nhóm cây, ông mất ba ngày thực hiện, một thời gian dài với một nghệ sĩ luôn vẽ rất nhanh. Bức tranh này, như ông viết cho Theo, dù sao 'cùng một kích thước, giống như nhà dân và nhà thờ địa phương', hai bức tranh sơn dầu cùng thực hiện vào tháng Năm vào năm đó. Khi ông thử nghiệm về màu và sắc thái, ông ngày càng đạt được mong muốn của mình, như ông đã làm trước đó với Potato Eaters, để thử hiệu ứng của trong phòng khách trang nhã nhà bạn, họa sĩ nghiệp dư Anton Kerssemakers. Sự thể nghiệm mùa thu này cũng vậy, ông đặt trên nền màu xám và phía trên họa tiết màu đen và mạ vàng. 'Ừm, tôi chưa bao giờ tin chắc rằng mình sẽ làm những việc sẽ làm tốt, mà có thể thành công trong việc tính toán màu sắc của mình để đạt hiệu quả mong muốn', Van Gogh đã viết ghi chú với sự hài lòng. Thể nghiệm này có thể chưa là một bức tranh hoàn toàn phù hợp với thị trường nghệ thuật, nhưng ông đã đi đúng hướng. Kerssemakers, ở mức nào, đã bị ấn tượng bởi 'sự mềm mại, u sầu yên bình của sự kết hợp của màu sắc'. Điều này lần lượt tác động đến Van Gogh mà kết quả là không thể bán được tác phẩm, Thay vào đó Kerssemakers, người đã nói: 'điều tốt đẹp'. Van Gogh không chia sẻ quan điểm này. Ông tự thấy có thể đã học được nhiều từ các bậc thầy cũ bằng cách sử dụng ít sơn hơn để đạt được hiệu ứng 'mạnh mẽ hơn'..
4. David Hockney
.jpg)
David Hockney, Woldgate Woods, 2006, private collection
Woldgate Woods là một loạt bảy bức tranh lớn khác nhau (mỗi bức tranh bao gồm sáu bức tranh sơn dầu được vẽ từ cùng một cảnh quan) phản ánh sự ngưỡng mộ của Hockney đối với các xử lý trong tranh hoa súng của Monet. Một lần nữa, chú ý đến việc thay đổi điều kiện ánh sáng và theo mùa (so sánh giữa các phiên bản, được vẽ cách nhau vài tuần và vào các thời điểm khác nhau trong ngày; một phiên bản khác, ngày 7 & 8 tháng 11 năm 2006, tràn ngập ánh sáng sương mù, trong khi '26, 27 và 30 tháng 7 năm 2006 ′ là sự học hỏi về màu xanh lá cây - lá cây trong nhiều sắc thái, ánh sáng lốm đốm rơi xuống trên khoảng rừng thưa phía xa). Chiều cao của cây, cảm giác về không gian và màu sắc cuối mùa thu rực rỡ tất cả đều làm tăng cường độ của bản chất. Hockney bắt đầu thuyết phục chúng ta mở mắt ra môi trường xung quanh: "Không nhất thiết phải là Woldgate - khu vườn của riêng bạn sẽ thay đổi nhiều như thế".
5. Georgia o’Keefe
.jpg)
Georgia O’Keeffe, Autumn Leaves, 1924, private collection
O'Keeffe thu thập đồ lưu niệm từ tự nhiên, từ đá cuội, vỏ sò, đến lông chim và xương, và tại Hồ George, bà rất vui khi thu thập những chiếc lá, chúng thu hút bà vì sự đa dạng và màu sắc nổi bật của nó. Phần lớn các bức tranh lá của bà thể hiện một bảng màu nâu, đỏ đất, và sắc thái xanh lá cây, gợi mở những chiếc lá mùa thu, mặc dù được vuốt thẳng, ép sát và song song với mặt phẳng hình ảnh, lá thường giữ lại hình dạng đặc biệt và nhận dạng của chúng. Những chiếc lá mùa thu, tại hồ George, thể hiện một thảm lá sồi chồng lên nhau có hình dáng cô lập với các chi tiết phóng đại, thu hút sự chú ý đến những mảng màu xanh lá cây mùa hè bám lấy những màu đỏ rực và màu vàng mùa thu, mùa yêu thích của O'Keeffe ở Adirondacks. Bà đã tạo ra hai mươi chín bức ảnh lá giữa năm 1922 và 1931, tất cả đều dựa trên những chiếc lá mà bà thu thập được ở Hồ George.
6. Gustav Klimt
.jpg)
Gustav Klimt, Birch Forest I, 1902, private collection
Klimt dường như đã cảm thấy yên tĩnh ở giữa rừng. Mặc dù thân cây bị cắt bởi phần trên cùng của khung vẽ, thành phần không bị ngột ngạt. Thay vào đó, cây vươn lên bầu trời giống như các cột trong một nhà thờ giữa thiên nhiên. Ở các nước Trung Âu có truyền thống lâu đời về các bức tranh ngụ ngôn về rừng. Albrecht Altdorfer (1480 - 1538) vẽ phong cảnh thuần khiết đầu tiên, với những cây thông cao chót vót vươn lên khỏi khung hình, làm giảm đi cảm giác về kích thước của con người. Di sản phong phú của văn hóa dân gian từ khu rừng, bao gồm cả những câu chuyện cổ tích của Grimm, cũng có thể là một hợp âm với họa sĩ Klimt.
Thay vì sống cùng thiên nhiên bí ẩn, tối tăm của khu rừng, Klimt đã chọn một cảnh mùa thu rõ ràng, nơi màu sắc của những chiếc lá tự nhiên hướng về tông màu vàng mà ông ưa thích. Các vết nhỏ của sơn đạt được một hiệu ứng lung linh của ánh sáng, xa thực tế của ẩm ướt và bóng tối, trong khi hình ảnh của các thân cây ngang qua chiều rộng gợi mở của tấm voan theo nhịp điệu âm nhạc.
7. Edward Hopper
.jpg)
Edward Hopper’s, October on Cape Cod, 1946, private collection
"Tháng Mười trên Mũi Cod" thể hiện một góc nhìn của một ngôi nhà và nhà kho nhỏ từ con đường hoang vắng, như quan sát cảnh từ cửa sổ của một chiếc xe đi qua. Tác phẩm được thu hút bởi im lặng sâu sắc và tĩnh lặng. Bầu trời trong xanh, mùa hè biến mất, được thay thế bởi ánh sáng mùa thu tinh tế, trên nền xám xịt.
Hopper đến Cape Cod lần đầu cùng vợ, Jo, vào năm 1930, thuê một căn nhà ở Nam Truro cho cả ba mùa hè trước khi xây dựng một ngôi nhà và studio ở đó vào năm 1934. Hai vợ chồng dành sáu tháng ở đó hàng năm và Hopper tìm thấy rất nhiều chủ đề trong các ngôi nhà và các tòa nhà nhỏ trên bán đảo cũng như các cồn cát, ánh sáng tinh thể mang lại cho các ngôi nhà tính cách riêng biệt của nó. Ông lái xe vòng quanh mũi đất để tìm chủ đề, thường là vẽ từ xe hơi của mình, một thực tế mà ông thực hiện ở nhiều nơi khác nhau trong suốt sự nghiệp của mình là cách xa bờ biển Oregon. Điều này in hằn trong các tác phẩm của ông với một cảm giác về khoảng cách, làm cho người xem cảm thấy như vai trò người quan sát, chứ không phải là một nhân vật tham gia trong hiện trường.
Các tác phẩm quy mô lớn như tháng Mười trên mũi Cod là kết quả của một quá trình sáng tạo gian khổ, trong đó mọi góc cạnh hình ảnh được xem xét cẩn thận trước khi Hopper đặt cọ vẽ. Quá trình này rất cảm xúc và tốn thời gian nên Hopper thường chỉ hoàn thành từ một đến hai bức tranh sơn dầu một năm.
Tác phẩm được nhà Christin’s đấu giá với mức 12 triệu USD tại New York.
8. Childe Hassam
.jpg)
Childe Hassam, Autumn Boulevard, Paris, private collection
Frederick Childe Hassam (17 tháng 10 năm 1859 - 27 tháng 8 năm 1935) là một họa sĩ Ấn tượng người Mỹ, được ghi nhận cho những bức họa phong cảnh đô thị và ven biển của ông. Cùng với Mary Cassatt và John Henry Twachtman, Hassam là tạo dựng và phân phối tranh ấn tượng cho các nhà sưu tập, đại lý và bảo tàng Mỹ. Ông đã sáng tác hơn 3.000 bức tranh, dầu, màu nước, khắc, và in thạch bản trong suốt sự nghiệp của mình, và là một nghệ sĩ người Mỹ có ảnh hưởng của đầu thế kỷ 20.
9. Henri Rousseau
.jpg)
Henri Rousseau, Eiffel Tower at Sunset, 1910, private collection
Họa sĩ Henri Rousseau (sinh 1844 - mất 1910 tên đầy đủ Henri Julien Félix Rousseauhay) là họa sĩ Hậu Ấn tượng Pháp, theo trường phái Ngây Thơ. Khi còn sống, ông bị người đương thời cười nhạo vì là người tự học nghệ thuật, bị chế giễu với các tác phẩm được nhìn theo cách nhìn hẹp hòi lúc bấy giờ. Tranh ông lúc đương thời bị đánh giá là không cân đối, đơn giản quá đáng, vẽ quá ngây ngô, thật thà.
Bức họa Hoàng hôn trên tháp Effel và sông Sen là một trong tác phẩm ấn tượng của ông. Rousseau đã không quan tâm đến các quy tắc. Ông vẽ các tác phẩm theo suy nghĩ riêng của mình. Xét theo quan điểm, việc tự học không nhất thiết phải tuân theo các quy tắc. Và điều này, tất nhiên, cũng đúng với nghệ thuật.
Thực sự thì họa sĩ Rousseau chưa bao giờ rời khỏi nước Pháp. Ông chỉ đi thăm thú các vườn thực vật, sở thú ở Paris, rồi từ đó vẽ cây, vẽ thú. Nhưng rất nhiều tác phẩm của ông là thành phẩm từ trí tưởng tượng tuyệt vời của ông. Rousseau hay đi thăm các bảo tàng, xem sách, xem tạp chí về thực vật. Ông cũng nghe những người lính đánh thuê nghỉ phép về quê kể chuyện, nghe họ tả lại những phong cảnh đã đi qua cho ông nghe và đặt vào tác phẩm.
10. Paul Gauguin
.jpg)
Paul Gauguin, Landscape in Arles near the Alyscamps, 1888, Musée d’Orsay
Tháng 10 năm 1888, Gauguin đến Arles, bạn của ông, Vincent Van Gogh đã mời ông đến làm việc. Hai nghệ sĩ đã viết thư cho nhau trong vài tháng, ghi lại những tiến bộ trong nỗ lực của họ để tạo ra một cảnh quan trường phái phi tự nhiên.
Bức tranh này với màu sắc rực lửa mùa thu của nó có lẽ là một trong những bức tranh sơn dầu đầu tiên Gauguin sáng tác tại Arles. Nó cho thấy nghĩa địa La Mã ở Arles được thánh Trophime, vị giám mục đầu tiên của Arles, công nhận vào thế kỷ thứ 3, như một nơi chôn cất cho các Kitô hữu. Thế kỷ 19 không còn gì trên khu vực nhưng con đường của cây bách và một vài đám ruồi đói, tạo cho nó có một không khí u sầu sâu sắc.
Gauguin loại bỏ các liên hệ lịch sử gần như hoàn toàn, chỉ để lại tòa tháp mái vòm và một phần của tòa nhà nhà thờ La Mã St Honorat được xây dựng trên khu vực, ở phía sau. Không có đàn ruồi vo ve, chỉ có cánh đồng, rừng và một kênh đào có ba người đang đi bộ, hai người phụ nữ ăn mặc như Arlesiennes và một người đàn ông. Gauguin không tìm thấy sự hấp dẫn đặc biệt nào của người Arlesiennes, thật trớ triêu không biết nên gọi là bức tranh Phong cảnh hay Ba người làm dáng trước đền thần Vệ nữ khi ông gửi nó đại lý nghệ thuật của mình là anh trai của Vincent, Van Gogh kể.
Với các mảng khối sát nhau và mở ra, bức tranh này thể hiện đặc trưng của hình tượng của Gaunthin. Các nét vẽ, được sao chép từ Cézanne, cho phép ông thực hiện ý tưởng mà không bắt chước thế giới thực. Các màu sắc bão hòa cao cũng là một giải thích chủ quan và trang trí của cảnh quan. Khung cảnh thanh bình của Les Alyscamps này tương phản với các tác phẩm đương thời dày đặc mà Van Gogh đã vẽ ra.
11. Egon Schiele
.jpg)
Egon Schiele, Four Trees, 1917, Belvedere, Vienna
Four Trees là một bức tranh phong cảnh tuyệt đẹp của Egon Schiele năm 1917. Bốn cây của Schiele có độ sâu lớn thông qua ánh sáng tương phản thu hút sự chú ý đến các ngọn núi và mặt trời chiếu sáng trong phần nền.
Một số người tin rằng các cây phía các cạnh của bức tranh trông khỏe mạnh hơn là miêu tả niềm tin từ nghệ sĩ rằng những người theo lối truyền thông sẽ có cuộc sống hạnh phúc hơn những người bảo thủ.
Four Trees (Vier Bäume) tập trung mắt vào mặt trời tuyệt đẹp đang xuống sau núi trong nền của bức tranh, trong khi cây phác họa đồng đều trên nền trước của bức tranh Sự tương phản giữa độ sáng và bóng tối trong tác phẩm nghệ thuật này đã làm cho nó trở nên nổi tiếng với người hâm mộ Egon Schiele, và nó đã trở thành một trong những bức tranh được sao chép nhiều nhất từ sự nghiệp ngắn ngủi nhưng hiệu quả của ông.
Phong cảnh của Schiele được nhiều người coi là một đóng góp đáng kể cho trường phái sơn thiên nhiên châu Âu. Họ cũng nhấn mạnh sự thành thạo của nghệ sĩ và cách thức mà ông có thể áp dụng phong cách biểu cảm của mình cho các thể loại khác nhau.
Bốn cây đại diện cho chúng ta, với những cây bên ngoài xã hội hạnh phúc và khỏe mạnh hơn. Theo một cách nào đó, đây là một bức chân dung tự họa, hoặc ít nhất là một sự phản ánh cá nhân từ Egon về cách ông nhìn vào mối quan hệ với mọi người.
12. Wassily Kandinsky
.jpg)
Wassily Kandinsky, Autumn in Murnau, 1908, private collection
Một bức tranh phong cảnh mô tả cảm xúc, đã đánh dấu sự chuyển đổi dần dần sang trường phái trừu tượng. Wassily Kandinsky là một họa sĩ và nghệ thuật gia người Nga và là một trong những nhân vật quan trọng nhất trong sự phát triển của nghệ thuật hiện đại.
Ông là người đã giải thoát bức tranh khỏi sự hạn chế của sự đại diện và do đó đặt nền tảng cho sự tiến hóa của sự trừu tượng hóa. Tác động của ông đối với thế giới nghệ thuật là rất lớn và nó thay đổi cách vẽ được cảm nhận tốt hơn. Tác phẩm của ông được thực hiện trên nền tảng triết học vững chắc, vì nó liên tục tiến triển thành một tầm nhìn toàn cảnh.
13. Jean-François Millet
.jpg)
Jean-Francois Millet, Haystacks Autumn, 1873, private collection
Bức tranh này thuộc một loạt tranh miêu tả bốn mùa được đặt thực hiện vào năm 1868 bởi nhà công nghiệp Frédéric Hartmann. Millet đã làm việc trên các bức tranh liên tục trong bảy năm trời.
Vào mùa thu, với vụ thu hoạch kết thúc, những người hái lượm đã rời đi chỉ còn những con cừu ăn cỏ. Phía trước là những đống cỏ khô nằm trên cánh đồng Chailly và những mái nhà của Barbizon. Kết thúc mở như phác thảo của tác phẩm này là đặc trưng của phong cách về sau của Millet: các mảng màu hồng tử đinh hương sẫm được cố tình lộ ra, và sự lộ ra có thể nhìn thấy, đặc biệt là trong các đường viền của đống cỏ khô và cừu.
14. Katsushika Hokusai
.jpg)
Katsushika Hokusai, Peasants in autumn, XVIII-XIX cent, Guimet Museum
Katsushika Hokusai (1760 - 1849), là một nghệ sĩ Nhật, hoạ sĩ ukiyo-e và là người chế tạo máy in khắc gỗ trong thời kỳ Edo (1603 - 1868). Sinh ra tại Edo (nay là Tokyo), Hokusai được biết đến nhiều nhất với tư cách là tác giả của loạt tranh in bằng khung gỗ "36 cảnh núi Phú Sĩ" (1831), trong đó có tác phẩm "Sóng Lừng ở Kanagawa" đã trở thành biểu tượng của Nhật Bản và được xuất bản trên bình diện quốc tế.
Với 30.000 tác phẩm, tên tuổi Hokusai đã được ghi vào danh sách các hoạ sĩ nổi tiếng toàn thế giới. Ông khiến người ta kinh ngạc bởi năng lực sáng tạo mạnh mẽ, không mệt mỏi trong suốt cuộc đời làm nghệ thuật.
Hokusai sinh năm 1760 tại tỉnh Shimosa, Nhật Bản. Khi lên 10, ông đã làm việc tại một xưởng gỗ. Năm 19 tuổi, ông theo học tại Katsukawa Shunsho, một trong những trường dạy nghề khắc gỗ nổi tiếng của Nhật Bản. Trong nghèo khó, Hokusai vẫn tiếp tục học hỏi từ các trường phái tranh thể loại này. Năm 1798, ông bắt đầu tập trung vẽ tranh phong cảnh. Sau đó, ông chuyển sang ký hoạ tất cả những cảnh sinh hoạt xung quanh mình. Từ 1814, cho đến cuối đời, Hokusai xuất bản 12 tập ký hoạ.
Phong cảnh núi Phú Sĩ là đề tài ưa thích nhất của Hokusai. Trong tranh của ông, ngọn núi có khi lặng lẽ, thanh cao sau những cánh đồng lúa xanh, khi lại hùng vĩ trên nền trời mờ tím. Cũng có lúc nó đỏ rực như một cơn cuồng nộ hoặc hiện ra nhỏ bé, khuất sau những cơn sóng dữ. Nhưng cho dù với hình ảnh nào thì Phú Sĩ vẫn toát lên vẻ kiên cường, bất khuất.
Như giải thích của một y tá già, bức tranh trên như mô tả những nông dân và du khách trên cánh đồng mùa thu, một câu thơ của thời đại Tenchi, tác giả số một
Điểm đặc trưng trong tranh của Hokusai ở thời kỳ đầu là những nét uyển chuyển tự do, sau chuyển thành các đường khắc mạnh mẽ với màu sắc trầm buồn, nhưng luôn khúc chiết.
Với thể loại tranh khắc gỗ, những lao động nghệ thuật của Hokusai đã được công nhận rộng rãi và đẩy lùi tầm ảnh hưởng của tranh lụa trong giới nghệ sỹ. Ông được tôn vinh là một trong những nhân vật nổi bật nhất trong giới vẽ tranh khắc gỗ Nhật Bản
Tham khảo: http://www.dailyartmagazine.com


