GỐI BÔNG GẠO
Đặng Vân Phúc 04/2022
"Mày sang dọn nhà giúp bà nhé." Bà Thu nhắn nó khi nó đang đi chụp ảnh trên đồi. Tháng Ba, cây gạo trên nương nhà bà Thu nở hoa đỏ rực trên nền xanh mướt của những luống chè bên dưới. Đám học sinh, sinh viên kéo về chụp cùng hoa thật đông. Cây ở sườn đồi nên có vị trí có thể lấy được hoa, cảnh và người nên càng thu hút dân mê ảnh. "Vâng, mai cháu sẽ qua." Nó nhắn lại cho bà Thu rồi quay sang say sưa với đám trẻ đang chờ bấm máy.
Ngôi nhà sàn gỗ cột vuông đặc trưng nhỏ nhắn được chú Vạn con bà Thu dựng lên. "Nhà chú giữ đặc trưng 4 mái của người Thái Trắng chứ không như hình mai rùa liền mái của người Thái Đen" Chú Vạn giải thích cho nó khi nó tới đây và tá túc ở nhà chú. Thực ra cũng là nhà mua nơi khác mang về, chứ chú đi bộ đội, đến khi ra quân thì quê chú, làng bản đã không còn, mỗi bản nhỏ di dời tới một nơi khác nhau. Bản nhà chú mấy chục hộ chuyển từ bên Phù Yên bên kia sông Đà về Phiêng Luông và lập thành bản Phiêng Tiến này từ 1993, khi nhà nước vận động tái định cư do ảnh hưởng của Thuỷ điện Hoà bình.
"Sao giải phóng xong chú không về ngay?" Nó tò mò hỏi vì biết gần hai mươi năm sau chú Vạn mới về và phải mất công đi tìm quê mới. Nó là dân thành phố, thích phượt và chụp ảnh nên thường xuyên lên đây. Sau nhiều lần rồi thành quen thân với nhà chú Vạn. Nhà chú chỉ có hai mẹ con, bà Thu dù gần 90 nhưng khỏe mạnh, nhanh nhẹn, bà vẫn phải chăm chú Vạn hằng ngày, dù cũng gần 70 rồi mà với bà, chú Vạn vẫn như đứa trẻ, vẫn là đưa con bà bế ẵm ngày nào. Bà nuôi chú một mình từ bé, khi ông tham gia dân công chiến dịch Điện biên không trở về. Mấy năm trước, cứ tháng Ba, mùa hoa gạo nở rực rỡ là nó lại lên đây chụp ảnh cùng bạn bè. Lần nào lên nó cũng gặp người đàn ông với bộ quân phục cũ, gầy gò ra bán nước và ngắm nhìn đám thanh niên chụp ảnh. Ông lặng lẽ, nhưng dần thành quen, từ mượn chỗ gửi đồ, thay đồ rồi dần tá túc luôn ở nhà người đàn ông này, chính là chú Vạn. “Cây gạo này cũng mới hơn hai mươi năm thôi, khi chú chuyển nó từ dưới gò lên nó còn bé.” Lúc nó mới lên đây, ngồi uống nước và hỏi chuyện, chú Vạn kể về nương chè và cây gạo của mình.
Thời học cấp III, nhà chú trong một ngôi làng nhỏ bên sông đà, con sông êm dịu mùa khô nhưng thật dữ dằn mỗi khi mưa nguồn. Dòng nước ngầu đục cuộn sóng cùng với vô số gỗ, cây trôi dập dềnh. Đám thanh niên thường cố ra vớt vào, vừa có thể là củi, cũng có thể là gỗ to nếu may mắn nhưng cũng rất nguy hiểm. Năm đó, nước lũ cũng về rất lớn, ngập lên tận sát cái miếu trên đê, nơi có cây gạo to. Chú Vạn lên phía trên để vớt gỗ, gỗ và củi được mấy cây rồi, nhưng phía xa xa, một thân gỗ tròn nhấp nhô đầy hấp dẫn. Cầm theo cuồn dây, chú Vạn lao xuống nước, lách qua những rác và cành cây, tới được cây gỗ. Loay hoay, sóng cuộn mạnh, thân gỗ tròn xoay dìm chú Vạn xuống dưới và một cành cây khác va vào đầu…
“Anh Vạn, anh Vạn…”nghe văng vẳng tiếng gọi, chú Vạn mở mắt, mất một lúc làm quen vì trời nhá nhem tối, chú nhận ra cô bé trong xóm, cô Luyến, người cô ướt sũng đang đứng bên canh. Nhìn xung quanh, chú nhận ra đang nằm ở trên nền ngôi miếu cạnh cây gạo. “Em đang chăn bò và trú mưa ở đây, nhìn thấy có người dưới nước nên kéo vào mới biết là anh.” Cô Luyến kể. Cũng may, khi bị cành cây đập vào đầu, chú Vạn bị ngất đi, cây gỗ tròn chắc của dân khai thác là thành phẩm nên trôi tuột đi mất, nhưng cuộn dây giữ chú mắc vào đám cành cây và rác xoáy vào vũng chỗ chân miếu này.
Sờ trên đầu, chú nhận ra đang được băng bó. Lúc này thấy áo cô Luyến bị xé nham nhở dưới gấu. “Anh bị thương bên thái dương, em nhai lá phân hôi đắp, và bông gạo giữ rồi. Để em đỡ anh về.” Ở miếu, mấy tháng trước, bông gạo rụng xuống rơi quanh tường nên cô Luyến tìm được một ít sót lại để giữ vết thương, để băng cho chú, cô đã xé gấu áo của mình.
Thế rồi hai người thân nhau, hằng ngày đi học về, chú Vạn thường lên núi lấy củi, lấy măng hay làm nương cùng mẹ, chiều chiều kiếm cớ chú chạy ra miếu, nơi cô Luyến thả bò trên đê và chơi với đám trẻ. Chú còn học làm diều thả ở đây lôi kéo cả đám cùng say mê tắm lội sông mùa Hè. Ngày ngày dần trôi, đám trẻ cũng lớn, chiến trường miền Nam vẫy gọi, chú Vạn cùng đám thanh niên tòng quân lên đường. Chiều trước hôm đi, chú ra chỗ miếu, cô Luyến đã ở đó nhặt những bông hoa gạo đỏ chót. Tháng Ba, cây gạo cổ thụ đã sạch lá, nhưng bù lại rực cháy những bông đỏ trên nền trời. Chẳng hiểu do hấp dẫn bởi màu đỏ hay có vị gì mà mấy chú bò lân la tới đống hoa cô Luyến nhặt ăn bằng sạch khi hai người nói chuyện với nhau.
“Bao giờ anh về?” Cô Luyến hỏi. “Bao giờ em nhặt đủ bông gạo làm gối, anh sẽ về.” Chú Vạn cười đáp. Chẳng là, nhiều lần ngồi chơi, sau mùa hoa gạo, hai người thường ngồi ngắm quả, rồi tới lúc quả chín khô, nứt ra những bông gạo trắng muốt được gió thổi bay đi khi Hè về. Cây gạo rất cao, to, cành mọc rất xa thân nên khó mà trèo lên lấy được, chỉ có thể chờ khi bông bay xuống để nhặt. “Bà em bảo, con gái nên nhặt những bông gạo, gom lại làm thành gối, sau này mang về nhà chồng.” Một lần cô Luyến kể với chú. “Rất lâu mới có một bông bay xuống, mà bay đi mất, bao giờ mới đủ để làm gối?” Chú Vạn thắc mắc. “Kệ chứ, bà em bảo, chắc vài mùa là được.” Cô Luyến trả lời.
Chiến tranh lấy thời gian đi, chẳng cần đến vài năm, chỉ một mùa hoa năm đó, khi chú đi bộ đội được hai tháng, những bông gạo trắng tinh được cô Luyến dùng sào lấy xuống. Cô nhặt sạch sẽ, may vỏ gối và thêu hoa thật đẹp. Bông gạo nhồi vào làm gối được cô cất kỹ trong một rương gỗ. Thời gian này, bà Thu ở nhà một mình, cô Luyến qua lại thường xuyên, xem như con trong nhà cùng giúp bà khi trái gió trở giời.
Thư được thư mất và rồi chiến tranh cũng qua. Những người lính có người mất, người trở về. Riêng chú Vạn vẫn bặt tin. Một số người cùng đi với chú trở về nói “Vạn nó bị thương, đang điều trị ở bệnh viện x…” Bà Thu biết vậy và ngóng chờ. Rồi cô Luyến quyết định đi tìm. Những năm đầu, cứ sang Xuân là cô lên đường, nghe nói ở đâu có trại điều dưỡng là cô tới. Có lúc tưởng như tìm được, khấp khởi vui, cô còn đưa cả bà Luyến theo. Khoảng chục năm, trước khi lên đường, cô mang rương gỗ tới nhà bà Thu. “Bác ơi, con gửi cái rương này cho anh Vạn nhé…” Cả hai ôm nhau khóc, bà Thu vẫn tin vào điều kỳ diệu nào đó, vẫn mong chú Vạn về. Lần đó, cô Luyến đi và không về nữa…
“Chú bị thương, di chuyển chữa bệnh, điều dưỡng khắp nơi, thương tích đầy mình mà lúc đó cũng không nhớ được gì cả.” Chú Vạn trả lời nó và kể. Năm năm đi bộ đội, hành quân tham gia hết chiến dịch này đến chiến dịch khác, rồi tới trận đánh Buôn Ma Thuột, khi chốt chặn đường 14 đầu năm 1975, cả đội của chú bị trúng pháo của Ngụy. Chú may mắn được cứu sống, chữa chạy, điều trị thời gian dài. Đến khi tỉnh táo trở lại, sức khỏe dù vẫn còn yếu nhưng chú cố xin về quê. Khi về thì quê không còn, mọi thứ đã đổi thay, bản đã đến nơi định cư mới. Mất mấy tháng trời chú mới tìm được nhà và mẹ. Bà Thu cũng đã 63 tuổi rồi. Bản mới được vài năm, nhà cửa tuềnh toàng. Chú bắt đầu từ khai hoang đồi tạo dựng nương chè và mua được nhà sàn từ nơi khác về dựng để hai mẹ con ở.
Nhà chỉ có 2 mẹ con, trong nhà cũng không có đồ đạc gì, cái rương gỗ để trên giá đầu giường cùng ba lô lính cũ, xung quanh treo quần áo thường ngày. Với sức khỏe không tốt, nương chè thực ra bà Thu là lao động chính, chú Vạn chỉ hỗ trợ chút nào thôi. “Lên đây thì vào nhà chú mà ở, không phải ra phố đâu.” Một lần chú Vạn đề nghị khi mùa hoa gạo nở, chúng nó lên chụp ảnh. Chú mở cái lán nhỏ bán nước cho đám thanh niên. Chúng nó đến khi mùa hoa, cuối tháng Ba khi hoa rụng hết, chẳng còn đứa nào bén mảng đến nữa. Lán cũng đóng cửa, tuy nhiên, thói quen, chú Vạn vẫn ra lán ngồi và thường trông lên những quả gạo đang lớn, chín và bung bông gạo trắng bay trong gió…
Dọn dẹp nhà cho bà Thu, nó bê cái rương xuống và mở khóa. Bà Thu nay cũng gần 90 tuổi rồi, chú Vạn từ khi về, người mang nhiều thương tật, lại thêm ảnh hưởng chất độc nên chú không lấy vợ, thi thoảng ngồi với nó, chú lại kể chuyện cô Luyến ngày xưa. Chú vẫn nghĩ, một ngày nào đó, cô Luyến sẽ lại quay về, cái rương chú giữ gìn từ bấy đến nay. Hôm nay nó mở ra, thật bất ngờ, bên trong là đôi gối trắng, thêu hoa đã chuyển màu và có những vệt ố. “Gối nhồi bông gạo của cái Luyến đấy mà…” Bà Thu ngậm ngùi nói. Chú Vạn không chờ được, cô Luyến cũng không chờ được, chú đã ra đi năm ngoái khi trận rét tháng Ba về, khi mùa hoa gạo đang rực rỡ trên đồi.
Hôm nay giỗ đầu chú, lặng lẽ nó mang hai cái gối bông gạo lên đồi, cái gối chứa chất tình cảm của cô Luyến khi xưa, chưa từng ai sử dụng nó. Bật que diêm, nó hy vọng sẽ gửi được xuống cho chú Vạn, chú có thể vui khi nhận lại kỷ vật ngày xưa…
Phiêng Luông – Mộc châu.
Ảnh: DVP Cây gạo miếu Bà Cô, Yên dũng.


